Buổi 5 2 Kế toán các giao dịch bằng ngoại tệ Tiếp

Lê Ngọc Dung12,819 words

Full Transcript

Mời các bạn trong lớp tiếp tục lên học. Cô mời các em lên học. Được chưa ạ? Cô mời các em lên học nhá. Đúng rồi. Bạn Tiến Đoan, bạn Thơ lên học rồi. Đúng không? Cô mời các em lên học đấy. Cô mời các bạn trong lớp lên học. Cô mời các bạn trong lớp lên học. Đấy. Recording in progress. >> Thế thì bây giờ đúng không? Đấy, bây giờ cô sẽ cho các em nhìn lại cái từ nguyên tắc đã. Nó tóm lại là mình cứ học đến đâu nó chắc đến đấy. Đấy, thế sau đó thì có các cái chú ý sau đúng không? Đấy. Thế thì lúc này ở trong tài liệu đây ờ cô trình bày nó giống như là ở cái thông tư 99 đó đúng không? Đấy, nhưng mà ở đây cô nói là thứ nhất là các cái khoản mục phi tiền tệ đó là các khoản doanh thu nhập, chi phí, tài sản phiền tệ. Thì khi có các nghiệp vụ phát sinh bằng ngoại tệ thì phải gây sổ nó theo tỉ giá tại ngày giao dịch. Cái từ là tỷ giá tại ngày giao dịch đó là của cái cái chuẩn mực số 10 đúng không ạ? Đấy, tỷ giá tạng ngày giao dịch. Đấy. Và lúc này thì cái tỉ giá tặng cái giao dịch đấy thì cái tỷ giá thực tế của giao dịch là sẽ được ưu tiên trước. Tức là lúc này mình sẽ làm quen với cái chuyện mà người ta viết ở trong cái chuẩn mực kế toán. Trong cái chuẩn kế toán thì nếu như cái gì viết trước thì sẽ được ưu tiên trước và không có cái viết trước đó thì tôi mới ghi tôi mới làm theo cái tiếp theo đúng không ạ. Thế cho nên nếu như trong trường hợp này mà cái giao dịch này của tôi có tỉ giá thực tế của giao dịch thì tôi sẽ ghi theo nó. Còn không có thì cô sẽ ghi nó theo tỉ giá của ngân hàng thương mạ và trong thông tư 99 người ta gọi là tỉ giá giao dịch thực tế. Thế thì ở đây cô mới nói đấy là tỉ giá thực tế của giao dệch chính là cái tỉ giá ghi trong hợp đồng ấ của cái cái thông tư 99 đấy. Tỷ giá thực tế của giao dịch phát sinh khi mua bán ngoại tệ à theo cái hợp đồng mua bán ngoại tệ giao ngay hoặc là hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng tương lai hoặc hợp đồng quyền chọn hoặc là hợp đồng hoán đổi. Nó sẽ là tỉ giá ký kết trong hợp đồng mua bán loại tệ giữa ngân doanh nghiệp và ngân hàng thương mại đúng không? Đấy. Thế còn cái tỷ giá giao dịch thực tế cô gọi đấy là tỉ giá của ngân hàng thương mại đúng không ạ? À có hai lựa chọn. Lựa chọn thứ nhất là tôi sẽ ghi theo tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao dịch hoặc tỉ giá xấp xỉ với tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình tại ngày giao dịch của ngân hàng thông mạng nơi doanh nghiệp thường xuyên có dập dịch. Cái tỷ giá đấy gọi là tỉ giá tấp tỉ và tỉ giá tấp tỉ phải đảm bảo chênh lệch không vượt quá cộng tr-1% so với tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình tại ngày giao dịch. Tức là nếu người ta cho cô ghi theo tỉ giá xấp xỉ với tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình tức là chỉ cần xấp xỉ với cái tỉ giá đó thôi chứ không nhất thiết là chính là cái tỉ giá trung bình đúng không ạ? Đấy nhưng mà lúc nãy thì cô đã lấy ví dụ là mình mình tính tỉ giá trung bình đấy bằng cách nào đúng không ạ? Đấy ví dụ tỷ giá xấp xỉ có thể là tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình được xác định hàng ngày hoặc hàng tuần hoặc hàng tháng trên cơ sở trung bình cộng giữa tỉ giá mua chuyển khoản và tỷ giá bán chuyển khoản hàng ngày của ngân hàng thương mạ. Việc sử dụng tỷ giá sỉ đấy phải đảm bảo thu làm ảnh hưởng trọng yếu đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ kế toán của doanh nghiệp đúng không? Đấy. Thế còn ở đây thì cái đoạn này nó là cái điểm mới của thu99 này là người ta cho cô áp dụng người ta gọi là tỉ giá chéo. Tỷ giá chéo có nghĩa là gì? Là trường hợp ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao dịch mà lại không công bố tỷ giá của loạn ngoại tệ mà doanh nghiệp phát sinh thì doanh nghiệp được lựa chọn một loại tiền tệ trung gian để quy đổi sang đơn vị tiền tệ trong kế toán của đơn vị. nhưng phải áp dụng nhất quán theo quy định của chuẩn kế toán Việt Nam. Doanh nghiệp phải trình bày trên thuyết minh báo chính về căn cứ lựa chọn loại tiền tệ trung gian đó và cách thức quy đổi loại ngoại tệ phát sinh giao dịch tang cái đơn vị tiền tệ kế toán của doanh nghiệp đúng không? Đấy, tức là lúc này người ta cho phép cô sử dụng cái tỉ giá chéo. Thế còn đoạn tiếp theo thì thực ra cái đoạn này là cô cũng chưa chưa đề cập đến nó. Đây này. Thì mình cũng phải đánh dấu vào cái đoạn này. Thì bình thường cô sẽ gọi đây là cái chú ý. Đấy, mình sẽ sẽ đánh dấu vào mình ghi cho cô. Đây là cái chú ý nhá. là trường hợp đấy. Trường hợp nếu mình bán sản phẩm hàng hóa cung cấp dịch vụ hoặc phát sinh các khoản thu nhập liên quan đến doanh thu nhận trước hoặc giao dịch nhận trước tiền của người mua. Đấy, tức là nói tóm lại là trong trường hợp mà cú bán hàng ấy cô cứ nói ngắn gọi là cô bán hàng mà có người mua trả tiền trước. Đúng chưa ạ? Tôi nhận trước tiền của người mua tức là bán hàng có người mua trả tiền trước thì thì gạch chân với cô nhất là cái phần doanh thu nhập tương ứng với số tiền nhận trước thì sẽ được áp dụng cái tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm nhận trước đúng không ạ? Tức là doanh thu tương ứng với số tiền nhận trước thì cô sẽ tính theo tỉ giá tại thời điểm nhận trước đúng không ạ? Đấy hoặc là ngược lại ngược lại nhá. Gạch chân là trường hợp tài sản được mua mà có liên quan đến giao dịch là trả trước tiền cho người bán. Đấy mua hàng nhưng mà tôi có trả trước tiền cho người bán thì trị giá tài sản tương ứng với số tiền trả trước thì sẽ tính theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm trả trước cho người bán đúng không ạ? mua hàng mà có cái chuyện trả chất tiền cho người bạn thì trị giá hàng mua tương ứng với số tiền trả trước cô sẽ tính nó theo tỉ giá tại ngày trả trước. Cái này nó cũng tương tự như cái thông tư 200 trước đây đúng không ạ? Đấy nhưng mà tỉ giá này là gọi là tỉ giá giao dịch thực tế. Giao dịch thực tế này cô có hai lựa chọn là tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình hoặc là tỉ giá sấp xỉ đúng không ạ? Đấy thì đấy là cái cái đoạn này mình sẽ ghi chú ý và cái này mình sẽ phải vận dụng nó để mình sẽ làm bài tập. Đấy khi mà cô cho bài tập là nó sẽ có cái đoạn này. Đấy. Thế còn tiếp theo là với các khoản tiền tệ à ví dụ như là vốn bằng tiền này rồi các khoản tương đương tiền nợ phải thu nợ phải trả. Ở đây cô gọi ví dụ đấy. Thì khi có các cái nghiệp vụ làm tăng phần tiền tệ thì tôi sẽ ghi nó theo tỉ giá tại ngày giao dịch. Tỷ giá tại ngày giao dịch đấy có thể là tỷ giá thực tế của giao dịch hoặc là cái tỷ giá giao dịch thực tế theo cái quy định của cái thông tư đúng không? Đấy à theo cái quy định của cái cái cái thông tư 99 đấy. Thế còn lúc này thì khi có các cái nghiệp vụ làm giảm khoản tiền tệ thì cô có thể ghi sổ theo cái cách thứ nhất là cô sẽ ghi nó theo tỉ giá ghi sổ. Tỷ giá ghi sổ được tính theo các bình quân cả di động và bình quân cuối kỷ hoặc là tính theo đức đích danh đúng không ạ? Đấy hoặc là không thì cô sẽ ghi nó theo tỷ giá giao dịch thực tế. Nếu doanh nghiệp sử dụng tỉ giá giao dịch thực tế để ghi tăng các khoản mục tiền tệ đúng không ạ? Tôi ghi tăng khoản mục tiền tệ theo tỉ giá giao dịch thực tế thì bây giờ tôi ghi giảm nó cũng theo tỉ giá giao dịch tấy. Tức là tôi không phải tính nó theo tỉ giá ghi sổ đúng không ạ? Đấy và các khoản chênh lệch tỉ giá hối đoái phát sinh trong kỳ thì sẽ được hạch toán vào năm 1 năm nếu là chênh lịch lãi hoặc hạch toán vào 635 nếu là chênh lịch lỗ đúng không? Đấy và doanh nghiệp phải thuyết minh chi tiết rõ ràng về chính sách kế toán đối với tỷ giá được áp dụng để hạch toán các giao dịch phát sinh m ngoại tệ trên thuyết minh báo chính và việc lựa chọn tỷ giá hối đoái đấy phải đảm bảo nguyên tắc nhất quán theo quy định của cái chuẩn kế Việt Nam đúng không? Đấy anh anh sử dụng cái loại tỉ giá nào thì anh phải thuyết minh và vậy anh phải áp dụng nhất quán đấy khi lập báo tài chính thì doanh nghiệp phải đánh giá lại số tư của tất cả các khoản mục tiền tệ có gốc loại tệ theo tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao dịch tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán riêng số dư của các khoản tiền gửi không kỳ hạn bằng ngoại tệ thì phải đánh giá lại số dư của tất cả các khoảng mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi cái khoản tiền gửi không kỳ hạn tiền cơ tính theo tỉ giá của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở tài khoản tiền và doanh nghiệp không thực hiện ấy đánh giá lại đối với một phần hợp toàn bộ giá trị nợ phải thu có gốc ngoại tệ đã trích lập dự phòng nợ phải thu đọc bởi vì cái phần tôi chích lập dự phòng thực chất là tôi có thu được tiền đâu đúng không ạ mà tôi lại đánh giá lại đấy và chênh lệch tỉ giá hồi đán tôi đánh giá lại các khoản tiền tệ của các loại tệ cuối kỳ sẽ được hạch toán vào năm một năm nếu lãi hoặc hài toán và 63 năm nếu lẫu và trên báo cáo kết quả kinh doanh thì khoản chênh lệch tỉ giá hội bá do đánh giá lại số cực cuối kỳ này sẽ được trình bày trên cơ sở toàn phần tức là giữa số tổng lãi và tổng lỗ tức là nếu mà tổng lãi nhiều hơn lỗ thì tôi sẽ ghi vào chỉ tiêu doanh thu tài chính còn nếu mà tổng lỗ nhiều hơn lãi thì tôi sẽ ghi phần trinh đệch tôi ghi vào chỉ tiêu chi phí tài chính đúng không đấy thế còn cái đoạn này chính là đoạn mà cái hôm vừa rồi Rồi mình thi của cái kỳ thi chứng chỉ năm 2025 ấy thì cái đề thi có một ý là hỏi về cái này đúng không? Đấy là trường hợp theo quy định của pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước à các cái khoản chênh lệch tỉ giá hối đoái nhá. Gạch ở đây cô gạch chân cho cô là do đánh giá lại các phản tiền tệ có gốc ngại tệ trong giai đoạn trước hoạt động của các doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% cú điều lệ có thực hiện dự án công trình trọng điểm quốc gia gắn liền với nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô an ninh quốc phòng thì có sự khác biệt với các cái nguyên tắc được quy định ở mục này kể cả về thời gian phân bổ cách thức phân bổ cho người tỉ giá hội đoán thì sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật nhà nước, pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước. Đấy, tức là có những cái doanh nghiệp đặc thù nếu mà cái quy định của người ta khác với những cái quy định ở trên đúng không ạ? Thì tôi sẽ thực hiện theo cái quy định riêng đó đúng không? Đấy. Và theo đó nếu doanh nghiệp này được treo lại các cái khoản lãi lỗ trên lịch tỉ giá hội đoán do đánh giá lại các khoản tiền tệ, có gốc ngoại tệ thì các khoản lãi lỗ này sẽ được treo lại và phải tập hợp phản ánh trên tài khoản 413 đúng không? Đấy, tức là nếu mà tôi treo lại nó thì tôi phản ánh trên 413 và đến khi nào mà cái công trình đưa vào hoạt động thì tôi sẽ phân bổ dần vào doanh thu tài chính hoặc chi phí hoạt động tài chính khi mà nó đưa vào hoạt động đúng không ạ? Tức là tôi sẽ phân bổ dần từ 413 sang năm 155 hoặc là 65 chứ tôi không cần thiết phải đi qua tài khoản 3387 hoặc là tài khoản 24000. Đó thì đấy là cái cái phần mà ghi ở trong cái cái cái thông tư 99 đấy. Đấy và người ta yêu cầu cô là gì? Doanh nghiệp phải thuyết minh chi tiết và rõ ràng về tỷ giá hối đoái áp dụng để đánh giá lại các phòng tiền tệ có gốc tệ tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán trên thuyết minh báo tài chính và đảm bảo nguyên tắc nhất oán theo quy định của chẩn kế toán. Và cái nguyên tắc thứ năm là doanh nghiệp không được vốn hóa chênh lịch thủy giáo hội đoái và giá trị tài sản ra. Tức là đối với công trình xây dựng cơ bản ấ là tôi có cái chênh lệch tỉ giá hội đoán thì cái chênh lệch tỉ giá hội đoán đấy không được vốn hóa vào giá trị tài sản của ra đúng không ạ? Khi mà anh xử lý nó thì anh chỉ có ghi vào năm 1 năm hoặc là 6 3 năm thôi đúng không ạ? Thế ở đây cái phần nguyên tắc mình ghi cho cô cái nguyên tắc dự thứ năm là doanh nghiệp không được vốn hóa đúng không ạ? Đấy ghi vào trong nhớ doanh nghiệp không được vốn hóa cái chênh lệch tỉ giá hối đoán đấy. Doanh nghiệp không được vốn hóa chên lệch tỉ giá hội bán vào vào cái giá trị tài sản rở ra chênh lệch anh không được vốn hóa cái chênh lệch tị tố gián vào cái giá trị tài sản rửa ra đấy không được vốn hóa cái chênh lệch gì ra hóa vào cái giá trị tài sản rửa ra. Đúng không chị ạ? Đấy thì cái nguyên tắc thứ năm nó sẽ là như vậy đúng không? Đấy là cái phần mà cô tóm tắt thứ ở đây là cô tóm tắt các cái nguyên tắc kế toán. Còn lúc này nếu mình muốn đọc kỹ đấy cô ghi là đọc chi tiết thông tư 99 ấ phần quy định về tài khoản 413 từ trang 286 đến trang 296. Đồng chưa ạ? Đó thì đấy là nguyên tắc. Thế bây giờ nguyên tắc này thì bây giờ mình sẽ bắt đầu vận dụng cho cô liên quan đến các cái ví dụ. Đấy ví dụ thứ nhất nhá là doanh nghiệp ABC nộc thuế dãy chạy tăng theo khấu trừ này trong tháng 12 năm N có nghiệp vụ liên quan đến tiền gửi ngân hàng bằng USD cô gửi tại Vietcombank như sau đôi vị tính là 1000đ à chính sách kế toán đối với giao dịch ngoại tệ là gạch chân cho cô là tỷ giá giao dịch thực tế tức là cái tỉ giá của ngân hàng thương mại ấy đúng không? Đấy thì trong thông tư hay sang người ta gọi là tỉ giá giao dịch thực tế được xác định là tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình của cái ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên giao dịch đấy đúng không? Đấy thì cô cứ viết tất tức là trong trường hợp này à cô có dùng cái tỷ giá xấp xỉ để làm cái tỉ giá giao dịch thực tế không? Hay nói khác là cái tỉ giá ngân hàng thương mại kia kìa. Cô có dùng cái tỉ giá xấp xỉ không ạ? cái chính sách kế toán và tôi không dùng cái tỉ giá xấp xỉ đúng không ạ làm cái tỉ giá giao dịch thực tế mà lúc này là tôi dùng cái tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình làm tỉ giá giao dịch thực tế đúng không? Đấy thứ hai cái chân cô là ghi giảm khoản tiền tệ thì ghi theo tỉ giá ghi sổ ra anh phải tính tỉ giá ghi sổ và tỷ giá ghi sổ của tài khoản 112 thì cô tính theo pháp bình quân cả kỳ đúng không? Đấy, Vietcombank là ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao dịch bằng ngoại tệ và cũng là cái ngân hàng mà nơi cái doanh nghiệp này nó mở cái tài khoản giao dịch đúng không? Đấy. Thế thì lúc này cô có số dư vào ngày mùng 01 tháng 12 à chi tiết là Vietcombank và cô mở đồng tiền đô là 10.000 đô và trị giá của cô là 240.000đ. Đơn vị tính 1000đ tức là lúc này là 24.000 Việt Nam đồng cho một đô. Thì đây là cái tỷ giá số đầu kỳ. Thế trong tháng 12 thì cô có các nghiệp vụ như sau. Nghiệp vụ thứ nhất là cô bán hàng thu ngoại tệ là 10.000 đô. Tỷ giá mua bán chuyển hoạt trung bình của Vietcom tại ngày hôm đấy là 25.000đ cho 1 đô. Thế thì lúc này ở cái nghiệp vụ số 1 này cô sẽ ghi nợ à ở đây là cô bán hàng thu ngoại tệ. Thực ra cái trường hợp này là cô cũng cho tất đấy. Trong trường hợp này là cô giả định rằng là hàng của cô là bày ở hội trợ ở triển lãm và cô bán cho người nước ngoài và cô thu bằng ngoại tệ. Thì anh hàng bày ở hội trợ chuyển lãm bán cho người nước ngoài và thu bằng ngoại tệ thì hàng đấy của cô cũng sẽ được coi là hàng xuất học đúng không ạ? Đấy. Thế cho nên lúc này thì tiền cô sẽ thu được vào tài khoản tiền gửi ngân hàng cô ghi nợ 112 đúng không ạ? Đấy là 10.000 000 đô và cô ghi có cho 51 cũng là 10.000 đô. Thế thì bây giờ cô hỏi các em là cô ghi có cho năm 111 thì khoản mục này là khoản mục tiền tệ hay phi tiền tệ? >> Phi tiền tệ. >> Có cho 51. >> Phiền >> ờ cô ghi có cho tài khoản 511 thì tài khoản 511 đấy là khoản mục tiền tệ hay phi tiền tệ? Phi tệ. Khoản mục đấy là khoản mục phi tiền tệ đúng không? Và cô sẽ ghi nó theo tỉ giá tại nhà giao dịch. Nhưng mà trong trường hợp này hàng của cô là bán ở hội trợ triển lãm và cô yết giá bán bằng đô ấ và cái người nước ngoài người ta mua cho cô người ta trả cho cô bằng tiền đô thì cái hàng này mới được coi là rất khỏi đúng không? Đấy. Đấy thì lúc này mình hình dụ cô là cô ghi có 511 đấy là một khoản một phi tiền tệ. Nhưng mà trong trường hợp này thì cái giao dịch này của cô có tỉ giá thực tế của giao dịch không? Trong trường hợp này cô có tỉ giá thực tế của giao dịch không? Không ạ. Không ạ. >> Tôi ít giá bán bằng đô và người ta trả cho cô bằng đồng tiền đô. Tức là tôi không có tỉ giá thực tế của giao dịch. Cô mới phải ghi nó theo tỉ giá. Cô vẫn dùng cái từ là tỉ giá cùng ngân hàng thương mại ấy. Ông thông tin 99 ông gọi là tỉ giá giao dịch thực tế. Và trong trường hợp này thì cái tỉ giá giao dịch thực tế cô tính theo tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình đúng không? Đấy. Đ lúc này thì cô sẽ ghi có tài khoản 511 đây là theo cái tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình tại ngày hôm đó là 25.000 Việt Nam đồng cho m đô và cô ghi có 511 đây là một khoản phi tiền tệ. Thế còn cô ghi nợ cho 112 à chi tiết cho cái tài khoản tại Vietcombank và là tài khoản đồng đô là 10.000 đô. Thế thì cô ghi nợ 112 đấy là cái 112 đấy là khoản một tiền tệ hay phi tiền tệ? >> Tiền tệ ạ. >> Tiền tệ. Và cô ghi nợ cho nó thì đấy là cô ghi tăng hay cô ghi giảm? >> Cô ghi tăng. >> Tăng khoảng tệ cô sẽ ghi nó theo tỉ giá tại ngày giao dịch đúng không? Đấy và trong trường hợp này tôi cũng không có tỉ giá thực tế của gia dịch thì cô phải lấy cái tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình tại cái ngày hôm đó để cô ghi đúng không ạ? Và cái tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình tại ngày hôm đó là 25 đúng không ạ? Tức là tôi ghi nợ cũng theo tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình tại ngày hôm đó. Từ khi có cũng theo tỉ giá mua bán truyền trung bình tại đó. Do vậy nghiệp vụ này của cô có chênh lệch tỉ giá hối đoái không các em? >> Không ạ. Không phát sinh đúng không? Đấy. Thế bây giờ nghiệp vụ số hai đây. Cái cô cô phản ánh vật sủ chi tiết này. Ngày mùng 0 tháng 12 cô thu được 10.000 đô với tỷ t 25. Thế bây giờ cô lại nói là đến ngày mùng 10 tháng 12 là cô mua tài sản cố định hữu hình hết 15.000 đô bằng tiền gửi ngân hàng. Tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình của cái ngân hàng Việt có hiện tại ngày hôm đó là 25,5 đấy. Thế thì thực ra ở đây là cô phải nhập khẩu nhưng mà cô viết tắt đấy. Tôi mua tài sản cố định hữu hình và cô trả ngay bằng tiền. Thế thì khi mà mua tài sản cố định hữu hình cô sẽ ghi nợ cho 211. Thế bây giờ cô hỏi các em nhé 211 đấy là khoản tiền tệ hay phi tiền tệ? >> Phi tiền tệ. Đúng không? >> Nó là tài sản phi tiền tệ đúng không? Bởi vì là cái tài sản tiền tệ thì nó chỉ có tiền này, tương đương tiền này và các khoản mục tôi có quyền nhận tiền. Thực chất đấy là phải thu hoặc tương tự thu đúng không ạ? Thế còn lúc này thì cô lại có cái tài khoản 211 thì khoản mục đấy là khoản mục phi tiền tệ. Nó là tài sản phi tiền tệ. Do vậy thì cô sẽ ghi nó theo tỉ giá tại ngày giao dịch. Và trong trường hợp này cô có tỉ giá thực tế của giao dịch không? Bản chất là cái nghiệp vụ này là cô nhập khẩu ấy là giá người ta sẽ bán cho cô bằng đồng tiền đô. Có >> và về sau cô phải trả cho người ta bằng đồng tiền đô. Thế cái giao dịch này của cô có tỉ giá thực tế của giao dịch không? Không. >> Không có. Phải ghi nó theo tỉ giá của ngân hàng thương mại đúng không? Đấy và tỉ giá ngân hàng thương mại này nó cũng sẽ tính nó theo tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình gì đúng không? Tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình tại ngày hôm đó là hai mấy đấy ạ? >> 25.5. >> 25,5 đúng không? Đấy là cô ghi ghi nhận một cái khoản mục phi tiền tệ. Thế còn cô ghi có cho khoản 112 là cô ghi tăng tiền hay ghi giảm tiền? >> Ghi giảm tiền. >> Giảm tiền. Vâng. Và chính sách kế toán của cô là ghi giảm tiền theo tỉ giá nào? Ghi sổ ạ. >> Ghi sổ và tỷ giá ghi sổ này của cái tài khoản tiền này cô tính theo phương pháp gì ạ? >> Bình cả kỳ. Bình quân cả kỳ. Nhưng mà lúc này thì từ ngày mùng 10 tháng 12 cho đến ngày 31 tháng 12 là không có nghiệp vụ nào phát sinh nữa. Thế cái tỷ giá bình quân cả kỳ đấy, cô sẽ lấy 10.000 đô nhân với 24 cộng 10.000 đô nhân 25 mà cô chia cho mẫu số là 10.000 đô cộng 10.000 đô chứ gì thì cái tỉ giá bình quân đấy cô sẽ tính được là bao nhiêu? 24,5. Đó. Đến lúc này cô ghi có cho 112 là 15.000 đô với tỉ giá 24,5. Do vậy chênh lệch ở đây cô thiếu bên có. Cô sẽ ghi có cho khoảng 5 m năm. Năm 1 năm ở đây nó sẽ là 15.000 đô nhân với chênh lệch là 25,5 mà trừ đi 24,5 tức là 1 nó sẽ là 15.000. Nhưng cái chênh lệch này cô gọi đây là chênh lệch tỉ giá hối đoái từ nghiệp vụ phát sinh nhong kỳ. Từ nghiệp vụ phát sinh cô ghi là PS này là nghiệp vụ phát sinh kỳ đúng chưa ạ? Đấy và từ ngày mùng 10 tháng 12 cho đến ngày 31 tháng 12 thì cô không còn một cái nghiệp vụ nào nữa xảy ra. Do vậy đầu tiên cô phải rút số dư vào ngày 31 tháng 12. Thì nếu mà số dư vào ngày 31 tháng 12 nếu mà cô xét mặt nguyên tệ thì cô sẽ có 10.000 đô cộng 10.000 đô mà trừ đi 15.000 đô. Tức là cô còn 5000 đô và cô tính theo tỉ giá đang ghi trên sổ kế toán là 24,5 đúng không? Đấy. Thế nhưng mà lúc này thì tại ngày 31 tháng 12 thì cái tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình của ngân hàng Vietcombank đây là ngân hàng mà nơi doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch đúng không? Đấy. Thế doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch cho nên là lúc này nói tóm lại là cái 5000 đô mà cái số dư cuối kỳ này thì cô phải đánh giá nó theo tỷ giá tại ngày cuối kỳ của VCOM Bank đúng không ạ? Cái tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình tại ngày cuối kỳ của VCOM là 26,5. Tức là khi mà cô đánh giá nó thì tỷ giá đang đi trên sổ kế toán của cô là 24,5 nhưng bây giờ cô đánh giá lại nó theo tỉ giá là 26,5. Tức là và đây của cô là tiền thì có nghĩa là tiền của cô đang là tăng lên hay giảm đi? Khi cô đánh giá nó đang là 24,5 mà bây giờ đánh giá lên là 26,5 tức là tiền của cô đấy là đánh giá tăng. Và khi tiền mà được đánh giá tăng thì chênh lịch đấy gọi là chênh lịch lãi hay chênh lịch lỗ? >> Chênh lịch lãi ạ. >> Chênh lịch lãi đúng không? Thế thế hoặc là ví dụ như khoản phải thu mà khi mà cô đánh giá lại thì cái tỉ giá cuối kỳ nó cao hơn tỉ giá đang ghi trên sổ kế toán thì nếu là phải thu thì đấy là chênh lịch lãi hay lỗ? >> Lãi >> lãi á. phải thu phải thu mà tăng thì đấy là trên lực lãi đúng không ạ? Thế ngược lại nhá ví dụ cô có khoản nợ phải trả mà cái tỷ giá mà cô đánh giá lại nó lại nhiều hơn tỷ giá đang ghi trên sổ kế toán tức là nợ phải trả càng nhiều đúng không? Đấy thế thì cái nợ phải trả nhiều thì lúc này là cái khoản đúng không? Đấy cái cái nợ phải trả mà nhiều thì cái khoản khoản đó của cô là cái chênh lệch đấy là chênh lệch lỗ đúng không? Đấy chên việc lỗ tùy ra hôi đoán. Thế cho nên lúc này thì mình hình dụ cô là đúng không? Đấy là ở đây ấ là tiền của cô tăng lên trên người này chên lịch lãi nên cô ghi nợ cho tài khoản tiền này và chênh lệch này là lãi khi mà cô đánh giá lại số hư cuối kỳ cô ghi có n 1 năm nhưng mình nhớ này là cô phải chi tiết này là do đánh giá lại tư cuối kỳ đúng không đấy chênh lệch ở đây của cô là 5000 mà nhân với 26,5 trừ đi 24,5 tức là chênh lệch ở đây của cô là 10.000 các em đúng ý chưa ạ? Thế thì các em cũng biết là tại sao kể cả là khi mà kể cả cái chênh lệch phát sin nhu kỳ và chênh lệch đánh giá lại số dư cứ kỳ cô ghi thẳng vào năm và 65 nhưng mà tại sao cô lại phải chi tiết đấy là chênh lệch phát sinh nh kỳ và cô chi tiết riêng là chênh lệch dẫn đánh giá lại phú quý vị ạ. Lý do tại sao cô lại phải phân biệt riêng >> về mặt thuế ạ? À cô không nói đến câu chuyện về thuế >> bởi vì là cái này còn phải bù trừ cuối kỳ khi mà >> đúng rồi cái nguyên tắc dễ của cô ấy là cái chênh lệch mà đánh giá lại xứ cuối kỳ ý thì khi mà cô lên báo cáo thì có phải là cái phần năm 1 năm cô ghi vào doanh thu tài chính chỉ tiêu doanh thu tài chính và cái phần 635 cô ghi vào chỉ tiêu chi phí tài chính không ạ? Câu trả lời là không. Riêng cái chênh lệch mà do đánh giá lại số dương cuối kỳ thì cô phải bù trừ. Đúng rồi. Cô phải bù trừ lãi nhiều hơn lỗ. Thì cô ghi cái phần chênh lệch đấy, cô ghi vào chỉ tiêu doanh thu giải chính có lỗ nhiều lãi thì cô ghi vào chi phí giải chính. Thế còn cái chênh lệch phát sinh nhu kỳ thì cô có bù trừ để cô trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh không? >> Không bù trừ. >> Đúng rồi. Chênh lệch phát sinh trong kỳ là cô không bù trừ. Cái phần 51 thì cô ghi vào doanh thu chính còn phần ghi vào 635 cô sẽ ghi vào chỉ tiêu là chi phí tài chính. Đúng chưa ạ? Bởi vì câu hỏi thi của mình nhá là các thầy cô sẽ hỏi lên chỉ tiêu chứ các thầy cô không hỏi cái chuyện mà anh định khoản đâu đúng không? Đấy cho nên lúc này thì mình phải rõ ràng nó là như vậy. Cho nên tại sao cô lại ờ cô lại phân biệt đây này. Còn ngoài ra thì cái câu chuyện về thuế nữa thì cô sẽ nói sau. Các em đồng ý chưa? Đấy nhá. Đấy là cái ví dụ 9a. Cái ví dụ 9A cô trình bày như thế này được chưa? Các bạn trong lớp thấy thế này được chưa? >> Rõ rồi ạ. Bây giờ nhá, bây giờ cô lại bắt đầu chuyển. Cô chuyển rằng là bây giờ khi cô ghi giảm cái khoản mục tiền tệ thế này là cô không tính nó theo tỉ giá ghi sổ nữa mà cô cứ ghi nó theo tỉ giá giao dịch thực tế đấy. Thế thì sẽ có cái chuyện gì xảy ra? Cuối kỳ cô sẽ xử lý nó như thế nào? Các em hình ạ. Đấy. Và lúc này thì trong cái thông tư 99 ấy nó khác với cái thông tư 200 là người ta cũng hướng dẫn là rõ. Đấy là nếu như khi anh ghi giảm thực ra cái chuyện mà anh ghi giảm cái khoản tiền đệ ấ mà anh không phải tính nó theo tỉ giá ghi sổ mà anh ghi nó theo tỉ giá giao dịch thực tế thì thực ra cái thông tư 53 người ta đã cho phép rồi. Cái thông tư 53 sau khi ban hành thông ghi 200 thì có thông tư 53 là người ta đã cho phép rồi là khi anh ghi giảm các khoản tiền tạ là anh không phải tính cái tỉ giá ghi sổ đâu. Lằng nhằng lắm đúng không? Đấy tôi cho anh ghi nó theo tỉ giá giao dịch thực tế. Thế thì đúng không? Đấy. Thế thì lúc này tôi sẽ xử lý nó như thế nào đúng không ạ? Đấy. À tôi sẽ xử lý nó như thế nào? Thì ở đây à mình sẽ có cái ví dụ tiếp theo là cái ví dụ 9B đúng không? Đ ví dụ 9B nhá là doanh nghiệp ABC nộp thuế giới trệ tăng theo các thứ trừ. Trong tháng 12 năm N có các nghiệp vụ liên quan đến tiền của ngân hàng bằng ngoại tệ ở ngân hàng Vietcombank như sau. đơn vị tính là 1000đ đúng không? Đấy. Đấy. Và ở đây thì chính sách kế toán là gì? Cái chính sách kế toán đối với giao dịch ngoại tệ là tỉ giá các em kèch chân cho cô nhá. Cái tỷ giá mà cô gọi là tỉ giá của ông ngân hàng thương mại ấy thì đây người ta gọi là tỉ giá giao dịch thực tế được xác định là tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại. Tức là tôi không dùng cái tỉ giá sức xỉ mà tôi lấy theo tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình. Còn ghi giảm khoản một tiền tệ thì tôi không tính tỉ giá ghi sổ nữa mà tôi sẽ ghi nó theo tỉ giá giao dịch thực tế. Vietcombank là ngân hàng mà doanh nghiệp thường xuyên giao dịch, đồng thời nó chính là ngân hàng mà doanh nghiệp có mở tài khoản đúng không ạ? Đấy. Thế thế thì lúc này là à ở đây thì cô sẽ có nghiệp vụ là gì? Là số dư vào ngày mùng 01 tháng 12 năm n của tài khoản 112. Chi tiết của Vietcombank và là USD lúc này của cô là 10.000 đô và trị giá là 240.000 đơn vị tính nghìn đồng tức là tỉ giá lúc đầu kỳ là 24 đúng không? Đấy tức là thực ra cái nghiệp vụ này nó vẫn giống như cái bài lúc nãy của cô ấy. Thế sau đó trong tháng 12 năm n thì cô vẫn bán hàng thu ngoại tệ là 10.000 đô và tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình của Vietcombank là 25 đúng không ạ? Thế thì khi cô bán hàng cô thu ngoại tệ thì cô vẫn ghi nợ cho 112 và cô ghi có 511. 51 này là khoản mục phi tiền tệ cho nên cô ghi nó theo tỉ giá tại gia dịch. Và trong trường hợp này cô không có tỉ giá thực tế của gia dịch cho nên cô ghi nó theo tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình là 25. Cô ghi tăng tiền này cũng thế. Tăng tiền đó thì cô sẽ ghi theo tỉ giá tại giao dịch. Nhưng tôi không có tỉ giá thực tế của giao dịch cho nên cô ghi theo tỉ giá mua bán truyền khoản trung bình đúng không? Đấy là 25 choên cái nghiệp vụ số một này của cô không có ch tỉ giá h đoạn. Thế còn đến nghiệp vụ số hai là cô lấy 15.000 đô để cô mua tài sản cố định hữu hình. Thế mua tài sản cố định hữu hình thì cô ghi nợ cho 211. 211 này vẫn là khoản mục tiền tệ hay phi tiền tệ ạ? Cô hỏi em. >> Phi tiền tệ. >> Phi tiền tệ. Cô sẽ ghi nó theo cái tỉ giá tại ngày giao dịch. Trong trường hợp này không có tỉ giá tại ngày giao dịch à cô sẽ không có tỉ giá thực tế của giao dịch. Không có tỉ giá thực tế của giao dịch cô sẽ ghi theo cái tỷ giá của ngân hàng thương mại và là tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình là 25,5. Thế nhưng mà lúc này khi cô ghi có cho tài khoản tiền thì cô hỏi các em là tôi có cần phải tính cái tỉ giá ghi sổ không? Khi mà cô cô cô ghi giảm tiền trong trường hợp này cái chính sách cô là cô ghi theo tỉ giá à ghi sổ không ạ? không giảm cô không cần phải tính tỉ giá nghi sổ tức là cô lười không tính không tính thì tôi vẫn ghi nó theo tỉ giá giao dịch thực tế tại ngày hôm đó và tỷ giá giao dịch thực tế tại ngày hôm đó là 25,5 dẫn đến ở cái nghiệp vụ hai này của cô nó có cái gọi là chênh lệch tỉ giá hội đoái từ nghiệp vụ sinh trong kỳ không? >> Không có. >> Đúng rồi. Tức là nếu mà anh ghi giảm tiền mà anh cứ bảo là anh ghi nó theo tỉ giá giao dịch thực tế đúng không? Tức là cái tỷ giá phát sinh tại ngày hôm đó. Thế thì lấy đâu ra có chênh lệch tỉ giá hối hóa đúng không ạ? Tức là nói tóm lại là à vậy thì lúc này cô không phản ánh cái chênh lệch tỉ giá hối đoái từ cái nghiệp vụ phát sinh trong kỳ đâu. Đấy ví dụ hai của cô chả có. Thế thì bây giờ đến cuối kỳ thì cô làm thế nào? À ngày 31 tháng 12 thì cái tỷ mua bán chuyển khoản trung bình của Vietncom Bank vẫn là 26,5. Tức là tình huống cũng không hề thay đổi. Thế thì lúc này khi mà cô ghi giảm tiền đây là 15.000 000 đô với tỉ giá 25,5. Thế thì bây giờ đầu tiên cô rút số dư đã. À các em tính à rút số dư cho cô nhá. À nếu mà xếp mà nguyên tệ là cô dư 5000 đô >> nhưng mà tính về Việt Nam 5 đồng. Bây giờ các em dùng máy tính các em tính cho cô đi là cô sẽ lấy 24.000 đô này. 10.000 x 24 này cộng với 10.000 nhân 25 này mà trừ đi 15.000 nhân với 25,5. Các em thử bấm máy tính ra cho cô xem nó có đúng là 107,5 107.500 không? Cái số dư cuối kỳ cô tính ra như vậy đúng không? 10.000 nhân với 24 cộng 10.000 nh 25 trừ đi 15.000 nhân 25,5 thì cấu số dư cuối kỳ tính ra Việt Nam đồng có đúng là 1007.500 không? >> Đúng ạ. >> Được chưa? Thế thì 107.500 nhá. Thì các em hình dụ cô là này là nếu như đây cô so sánh nhá là khi mà cô ghi giảm cái khoản một tiền đệ mà cô tính nó theo tỉ giá ghi sổ và cô tính nó theo ph bình quân cả kỳ thì cái tỷ giá bình quân cả kỳ này của cô nó sẽ là 25,5 à cô sẽ 24,5. Đây cái tỷ giá bình quân cả kỳ của cô là 10.000 đô nhân với 24 cộng 10.000 đô nhân 25 thì cô đầu tiên là cô phải tính cái tỉ giá bình quân cả kỳ đã. Bình quân cả kỳ ở đây của cô nó sẽ là 24,5. Thế thì bình quân cả kỳ là 24,5 mà cô chia ra là 15.000 đô thì cô chỉ biết rằng là đúng không? Đấy là cô sẽ còn 5000 đô mà nhân tỉ giá bình quân. 5000 đô cô nhân tỉ giá bình quân thì 5000 đô đấy nhân với tỷ giá bình quân là 24,5 thì cô sẽ tính ra là 112.500 và chênh lệch giữa cô sẽ 122.500 và chênh lệch giữa 122.500 với 107.500 thì đây chính là chênh lệch tỉ giá cuối đoán phát tin nh kỳ mà lúc trước tôi không ghi nhận nó sẽ nằm ở đây. Thế còn lúc này thì khi mà đánh giá lại thứ dư cuối kỳ ý thì nó là cái chênh lệch giữa cái tỉ giá bình quân này. Tỷ giá bình quân này của cô là 24,5 mà đúng không? Đấy là cái tỉ giá tôi đã ghi trên sổ ấy. Thế cái chênh lệch giữa cái tỉ giá bình quân là 24,5 này với cái tỷ giá của ngân hàng thương mại là 26,5. Thì phần chênh lệch đấy chính là chênh lệch kể giáo hội đoán do đánh giá lại số dế kỳ. Các em hiểu không? Đấy cho nên lúc này nhá tìm hiểu cô là cuối kỳ khi mà cô đánh giá lại 5000 đô đấy với tỷ giá 26,5 đúng không? Đấy với tỷ giá 26,5 thì cô sẽ tính ra tổng chênh lệch à nó sẽ là 25.000. Đấy tổng chênh lệch tỉ giá hội đoái là 25.000. Thì tổng chuyên lệch tỉ giá hội đoái 25.000 Nhìn đấy. Anh phải tách ra cho tôi là bao nhiêu là phát sinh nhu kỳ và bao nhiêu là do đánh giá lại số dung kỳ đúng không ạ? Thì cái phần phát sinh nhu kỳ ấ nó chính là chênh lệch giữa cái tỷ giá bình quân này. Tỷ giá bình quân chính là cái phần mà cô ghi bình quân giữa tồn đồng kỳ và nhập trong kỳ đúng không? Thì cái nếu mà mỗi lần cô ghi giảm tiền mà cô tính theo tỉ giá ghi sổ thì cái số dư còn lại nó cũng phải tính theo tỉ giá bình quân đúng không? Đấy cho nên chênh lệch giữa cái số phát sin nhu kỳ này với cái tỷ giá bình quân này thì đấy chính là chênh lệch tỉ giá hối đoái phát sinh kỳ. Thế còn cái chênh lệch giữa cái tỷ giá bình quân đó với cái tỉ giá tại ngày cuối kỳ thì đấy là chênh lệch đánh giá lại cứ quý kỳ. Nói tóm lại ngắn gọn là gì? Là trong kỳ mà anh không phải anh chênh lệch tỉ giá hội đóa thì toàn bộ cái chênh lệch tỉ giá hội đoái đấy nó sẽ nằm hết ở cái phần mà tôi đánh giá lại số dư cuối kỳ. Và khi anh đánh giá lại số dư cuối kỳ thì xin mời cô dùng cái từ anh hồi tố lại cho tôi đi bao nhiêu là phần phát sinh công kỳ và bao nhiêu là phần đánh giá lại chu kỳ. Và cô hồi tố nó như vậy đấy. À cái đoạn này cũng là cái đoạn mà được ghi ở trong cái thu 99 ghi bằng lời và từ bằng cái lời đấy thì tôi vận dụng ra bằng số liệu nó sẽ như vậy. Cái ví dụ này của cô đến đây được chưa? Nếu anh không thích ghi trong kỳ thì tổng chê lịch tỉ giá hối đoái không thay đổi đâu mà nó sẽ nảy hết vào cái phần cuối kỳ này. Và anh nảy hết nó vào phần cuối kỳ thì anh cũng vẫn phải tách ra cho tôi bản chất là bao nhiêu phát sinh trong kỳ và bao nhiêu là do đánh giá loại số cuốn kỳ. Cái ví dụ này được chưa các em? Đến đây được chưa cô ơi? Cô cho em hỏi chút xíu trong cái trường hợp này giả sử là số dư phát sinh có nó giảm hết luôn >> giảm hết luôn thì cô đã dậy xong đó em có biết cái ví dụ đằng sau này không cô đã bảo là cứ để yên cho cô dậy đi sau đó hỏi sau hiểu chưa cô đang hỏi là cái ví dụ 9b như thế này đã đ được chưa đã >> được rồi cô ạ >> được rồi bây Bây giờ xem tiếp, không phải hỏi nhiều. Có số liệu rồi đúng không? Cô đã bảo rồi là cái phần này cô sẽ không dạy một lúc đâu. Cái nguyên tắc của cô cái gì khó cô sẽ dạy đi dạy lại cơ chứ không phải dạy một lần mà hiểu được hết đâu. Cứ bình tĩnh càng nóng ruột càng nó càng lung tung lên. Mình cứ học dần đâu nó sẽ vào đấy. Bây giờ tiếp theo vẫn là cái ví dụ này nhá. Vẫn là ví dụ này nhưng khi cô mua cô ờ cô sẽ có 20.000 đô và cô sẽ dùng hết 20.000 đô để mua tài sản khủ định hề. Có đúng không các em? Tình huống cô là như vậy chứ gì đúng không? Cô dùng hết 20.000 đô để cô mua tài sản cố định hữu hình. Thì cái nghiệp vụ thứ nhất đây này là cô bán hàng cô thu ngoại tệ cô vẫn ghi bình thường đúng không? Đấy cô sẽ ghi tăng tiền là 10.000 đô với tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình và cô ghi nhận doanh thu là 10.000 đô với tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình. Nhưng bây giờ cô lấy 20.000 đô để mua cái tài sản cố định hữu hình đúng không? Đấy. Thế thì lúc này 20.000 đô đấy cô ghi nợ cho 211 là một khoản mục phi tiền tệ. Cho nên cô sẽ ghi nó theo tỉ giá tại ngày giao dịch. Và trong trường hợp này anh không có tỉ giá thực tế của giao dịch thì cô sẽ lấy theo tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình là 25,5. Nhưng mà khi cô ghi có cho khoảng tiền là 20.000 đô này cô không tính theo tỉ giá ghi sổ. Nếu cô tính theo tỉ giá ghi sổ nó sẽ là 24,5. Thế nhưng mà cô lười cô chả tính, cô cũng vẫn ghi theo tỉ giá là 25,5. Và nếu cô ghi theo tỉ giá 25,5 mà cô không thực hiện cái nghiệp vụ đánh giá lại số dư cuối kỳ này gì đúng không? Thì cái tài khoản này của cô nó sẽ dư ở bên nợ hay bên có nếu cô không đánh giá lại số dư. Tức là tôi tất toán ở đây thì cái tài khoản này nó sẽ dư ở bên nợ hay bên có? Cô hỏi các em xét này mà không có >> nhưng mà sẽ dư bên có các em sẽ nhìn thấy chưa? Đúng không? Đấy thế nhưng mà lúc này thì tôi phải có nghiệm vụ đánh giá lại thứ dư kỳ trước khi tôi tất toán có đúng không? Đó cho nên lúc này thì cuối kỳ thì xếp mặt nguyên tệ là bằng 0 và cô đánh giá nó theo tỉ giá là 26,5 gì? 0 nhân với 26,5 thì nó vẫn bằng 0. Tức là nói tóm lại là cái số dư cuối kỳ bằng Việt Nam đồng của cô nó phải bằng 0 nhưng mà bây giờ nó đang dở bên có. Cho nên lúc này thì cô phải cái cái bút toán mà cô cô đánh giá lại số dư cuối kỳ ở đây ấ thì cô sẽ lấy là à đúng không? Đấy cô phải lấy là 20.000 đô mà cô nhân với chênh lệch đây cái chênh lệch là 25,5 mà trừ đi cái chênh lệch theo cái tỉ giá trung bình là 24,5. Đúng không? Đấy thì cái chỗ này của cô nó sẽ là 20.000. 20.000 này cô phải ghi tăng tiền để mà cái số dư của tài khoản tiền này của cô bằng 0. Bởi vì cô không ghi tăng 20.000 thì cái thằng này dư có. Các em có nhận không? Thế nhưng mà cái 20.000 này thì đây là chênh lệch phát sinh trong kỳ hay là đánh giá lại số dư của kỳ ạ? >> Đánh giá lại số dư ạ. Phát sinh trong kỳ ạ. Haiì này >> phát sinh. >> Cái nghiệp vụ này là cái nghiệp vụ cô thực hiện vào lúc cuối kỳ. Nhưng bản chất là cuối kỳ cô về mặt nguyên tệ của cô bằng mấy ạ? >> Bằng 0. >> Nguyên tệ bằng 0. Thì cái chênh lệch mặt đánh giá lại thư cuối kỳ lấy đâu ra có cái gì đâu mà đánh giá lại đúng không? Này bản chất 20.000 này là toàn bộ là từ nghiệp vụ làm sao? >> Phát. >> 20.000 này toàn bộ là từ nghiệp vụ phát sinh đúng không? Chứ còn cuối kỳ tôi có còn cái gì đâu mà ông bảo tôi đánh giá à nguyên tệ của tôi bằng 0 thì đánh giá cái gì? >> À >> các em không nhận không? Thế cho nên nói rằng là thực ra nếu mà đúng theo nguyên tắc của kế toán ấy là khi anh ghi giảm này anh phải ghi nó theo tỉ giá ghi tổ ấy thì cái sủ kế toán của cô lúc nào nó cũng cân. Các em không nhận không? Thế nhưng mà bây giờ ông lười ông phá vỡ cả cái nguyên tắc đấy thì anh phải bù nó bằng cái nghiệp vụ đánh giá lại số dư thứ kỳ này. Các em hiểu không? để tôi kéo nó lại đúng theo nguyên tắc của tôi đúng không? Thế thì nói tóm lại là cái gì? Kết luận lại thì thông qua cái ví dụ này mình sẽ hiểu là gì? Là cách thứ nhất là khi tôi ghi giảm cái khoản một tiền tệ thì tôi tính luôn cái tỉ giá ghi sổ đấy đi thì nó sẽ rõ ràng minh bạch. Đồng ý chưa? Thế còn nếu anh lười anh không có tính gì ấ thì thực ra là trong kỳ nó chả có cái chênh lệch tỉ giá hội đóái thì nó hất khích vào cái chênh lệch vào lúc cuối kỳ đó. Nhưng cái kể cả là anh hát hênh lệch vô cuối kỳ đấy thì anh cũng phải hồi tố lại cho tôi là cái cuối kỳ đấy thì có bao nhiêu là chênh lệch phát sinh trong kỳ và bao nhiêu là chênh lịch đánh giá lại số dư cuối kỳ chứ không phải là trong kỳ anh lừa trong cuối kỳ anh ập hết vào đấy là đánh giá lại số dư cuối kỳ đâu. Người ta yêu cầu anh hồi tố lại cho tôi đấy. Cô nói như vậy đã được chưa? >> Được rồi. >> Cô nói như vậy được chưa? >> Được >> ví dụ chưa? Đúng không? Đấy nhá. đấy là cái mà cô cho số liệu để mình nhìn thấy rằng là đấy nếu mà anh ghi ra tiền ấy mà anh không thích tính anh lười c dùng cái từ lười chẳng tính đúng không ạ không thích tính thì nếu mà phải ghi giảm nó theo tỉ giá ghi sổ nhưng mà bây giờ anh lười anh không tính thì có nghĩa là trong kỳ anh không phản anh cứ trênh lệch tỉ giá hôi đoán và tổng của nó không đổi đâu tổng không hề thay đổi nó ập hết vào cái cuối kỳ đó. Nhưng mà khi nó ập hết vào cuối kỳ thì thằng thông tin 99 nó ghi rất rõ. Nếu mà anh ập hết vào cuối kỳ đấy thì anh xin mời cô dùng cái từ là hồi tố lại tính lại cho tôi bao nhiêu là phát sinh nhung kỳ và bao nhiêu là đánh giá lại số dung của kỳ. Mình hiểu chưa ạ? Đúng không ạ? Và hồi tối lại thì sẽ hồi tố như thế. Thế còn nếu như mình chưa làm quen ý thì mình phải về nhà mình phải lấy thêm một hai ví dụ nữa thì mình sẽ nhìn thấy rõ. Còn tại sao cô rõ? Bởi vì là cô tự lẩn mẩn cô đi tìm ví dụ ra đúng không? Mình thì tự làm ra thôi chứ còn ai làm ra cho mình thôi đúng không? Đấy cũng cố chỉ đọc thông tư như các em thôi nhưng mà mình phải tự lấy số liệu thì mình sẽ nhìn thấy nó. Còn mình không lấy số liệu thì chẳng bao giờ mình nhìn thấy nó cả. Được chưa ạ? Đấy nhá. Chấm hết nhá. Đấy là cái chuyện mà cô ghi giảm cái khoản tiền tệ theo chỉ giá giao dịch. Thế còn bây giờ tiếp theo cô lại có cái ví dụ số 10. Thì bây giờ các em sẽ ghi cho cô là ví dụ số 10 này là mình sẽ về nhà mình sẽ làm cho cô ví dụ thứ 10. Đấy cái ví dụ số 10 ấy thì thực ra của cô là gì? Là chính sách kế toán đối giao dịch ngoại tệ là tỉ giá giao dịch thực tế vẫn tính theo tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình. Còn nếu mà người ta cho mình tỉ giáp xỉ thì mình cứ thay cái tỉ giá xấp xỉ vào thôi. Các em không nhớ không? Đấy và ghi giảm khoản mục tiền tệ vẫn ghi theo tỉ giá ghi sổ. Tỉ giá ghi sổ đối với tài khoản tiền là theo phương pháp bình quân liên hoàn. Tỉ giá ghi sổ với tài khoản công nợ là theo đích danh. Đấy cô ghi rõ như thế cả nó đúng chưa? Thế thì lúc này cô sẽ có các nghiệp vụ này. Thì thực ra cái nghiệp vụ này nó chả khác gì cái nghiệp vụ mà lúc nãy cô dạy đâu đúng không? Cô cũng phải lắp tỉ giá, cô cũng phải tính toán xem thêm xem là cái khoản mục đấy là khoản mục tiền tệ hay là khoản mục phi tiền tệ đấy là ghi tăng hay ghi giảm đúng không? Đấy. Thế và cô sẽ đúng không? Đấy cô ghi ghi ghi nó ờ vào các cái tài khoản tương ứng đúng không? Đấy. Thế và lúc này thì ở đây nhá, mình phải nhớ cho cô là là trên cái phần thuyết minh báo ài chính của cái thằng thông tư 99 này bây giờ nó cũng sẽ thay đổi. Cái thuyết minh của cái thông tư 99 đấy thì nó sẽ tương ứng với cái quyết định 15 là thuyết minh về các cái tài khoản ngoài bảng. Đấy. Thế thì cái phần thuyết minh chi tiết các cái chỉ tiêu của báo cáo tình hình tài chính thì cái phần cuối cùng người ta gọi là thuyết minh về các cái tài khoản ngoài bảng. Thì lúc này mình nhớ của cô là cái ngày xưa cái tài khoản ngoài bảng ấy mà liên quan nguyên tệ ấ thì nó là tài khoản 007 ấ đúng không ạ? Thế thì hiện nay người ta cũng yêu cầu cô thuyết minh đấy về cái số nguyên tệ đúng không ạ? Cái số nguyên tệ hiện có tại thời điểm cuối kỳ. Thì lúc này cho nên là ở đây cô ghi là sổ chi tiết nguyên tệ tăng, sổ chi tiết nguyên tệ giảm. Cô ghi chi tiết này để làm gì? Để cuối kỳ cô sẽ thuyết minh đấy về cái số nguyên tệ và đấy là thuyết minh về tài khoản ngoại bảng đúng không? Đấy của cái thông tin 99. Cái ví dụ này ấ thì cô đưa ra để cho các em thực hành cái câu chuyện là đánh giá lại cái số dư tại ngày cuối kỳ của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ. Các em hiểu dư không? Thế thì cái ví dụ này của cô thì nó rất là đơn giản. Tức là cuối kỳ tôi chỉ có một khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ. Tôi đánh giá lại nó rất là rõ ràng đúng không ạ? Thế nhưng mà lúc này thì mình hình dụ của cô là không phải lúc nào cái doanh nghiệp nó chỉ có một khoản một tiền tệ có số dư bằng ngoại tệ. Cuối kỳ nhá thì nó đúng không? Đấy ví dụ như cô có tiền này tại Vietcombank này. Rồi cô có khoản là phải trả này đấy. Rồi cô có khoản phải thu. Chỗ này cô còn cho dễ là lúc này mình hiểu cô là cái Vietcombank này nó vừa là ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên giao dịch nhưng mà vừa là ngân hàng thương mại mà nơi doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch đúng không? Đấy. Thế còn lúc này ví dụ thằng Vietcombank này nó chỉ là cái ngân hàng thương mại mà cô mở cái tài khoản tiền này thôi. Còn cái ngân hàng thương mại mà nơi doanh nghiệp thường xuyên giao dịch nó không phải Vietcombank mà nó lại gọi là BIDV chẳng hạn. Đấy. Thế thì cái tài khoản 331 này hoặc 131 này nó lại phải đánh giá số dư lại số dư theo cái tỷ giá của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên giao dịch. Còn cái 112 này nó đánh giá theo tỉ giá của ngân hàng thương mại nơi được chưa ạ? Đấy nhá mình lưu ý cho cô là đấy nhá. Thế rồi cô có cái khoản phải thu của công ty Roy đúng không? Đấy thì nó ở đây nó đã quá hạn thanh toán 15 tháng và doanh nghiệp đã trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mức 50%. Nên khi mà cô đánh giá lại số dư của nó thì tổng số dư của nó là 16.000 đô thì cô chỉ đánh giá lại số dư đối với thằng đấy là bao nhiêu đô thôi ạ? >> Phần 50% >> 50% 8000 >> đúng không? 50% mà tôi đã chích lập dự phòng thì tôi không đánh giá lại. Tôi chỉ đánh giá lại cái phần 50% còn lại thôi. Em không nhện không? Đấy nhá. Và khi đánh giá lại đó thì cô sẽ lấy thực ra ở đây ấ nếu mà thực tế tại đơn vị là mình cũng phải lập một cái gọi là cái chứng từ kế toán, cái phiếu kế toán đúng không? Thế thì ở đây cô sẽ có cột nguyên tệ này à cô sẽ nhân với cái tỷ giá tại ngày cuối kỳ này thì cô tính ra trị giá đánh giá lại này cô trừ đi cái giá trị đang ghi trên sổ kế toán để cô tính ra cái chênh lệch và chênh lệch này thì cô dùng hai cột cột lãi cột lỗ nó là lãi thì tôi ghi vào cột lãi mà nó là lỗ thì tôi ghi vào cột lỗ em công nhận không đấy ví dụ như tiền với phải thu của cô thì cô khi cô đánh giá lại đó thì nó cao hơn cái giá trị đang ghi trên sổ thì đây là chiên lịch lãi thế còn phải trả này thì khi cô đánh giá lại nó thì nó cũng cao hơn cái giá trị đang ghi trên sổ cho nên chênh lệch đấy gọi là chênh lệch lỗ đúng không? Đấy. Thế cho nên là khi cô hạch toán thì đây tiền và phải thu tăng lên cô ghi nợ tiền này ghi nợ phải thu vào cô ghi có năm 1 năm. Thế còn các khoản phải trả tăng lên thì cô ghi tăng phải trả, cô ghi có phải trả và cô ghi nợ trong 635. Đấy là cô ghi trên à trên sổ kế toán. Thế còn trên báo cáo tài chính thì cô phải bù trừ đấy. Lãi là 14.000 ngì còn lỗ là 21.000 cho nên cái khoản lỗ thuần là 7000 cô sẽ trình bày ở chỉ tiêu chi phí tài chính. Các em hình dung ạ. Đó thì đấy là cái ví dụ đúng không? Cái ví dụ và cái ví dụ này thì cô lại minh họa cho câu chuyện là cô đánh giá lại số dư cuối kỳ và cô trình bày nó trên báo cáo tài chính. Cái cái ví dụ số 10 này thì toàn bộ cái phần định khoản các em về các em xem lại cho cô được chưa? Đấy nhá. Công việc tiếp theo là gì? À công việc tiếp theo nữa là các em sẽ về nhà đúng không ạ? Cái phần tiếp theo là cái phần mà cô gọi là kế toán các giao dịch bằng tệ. Thì th ra phần này cô dạy hết rồi đúng không? Đấy à tài khoản sử dụng này đúng không? Đấy 515 635 rồi các cái khoản liên quan này rồi 413 chên lịch tỉ giá hội đoái lúc nãy các bạn em bảo đấy đúng không? Đây này. Để nếu mà trong trường hợp nó là cái doanh nghiệp nhà nước mà là doanh nghiệp thực hiện các dự án công trình trọng điểm quốc gia đúng không ạ? Thì cái chênh lệch mà tôi đánh giá lại sử dụng kỳ đấy tôi lũy kế trên 413 và khi nào cái công trình đấy nó được đưa vào sử dụng thì tôi sẽ phân bổ sang năm và 635 đúng không ạ? Đó. Đấy và cái trình tự kế toán các cái giao dịch bằng ngoại tệ thì cô sẽ có một nhá gáy chân cho cô này. Kế toán các giao dịch bằng ngoại tệ. Nhưng cái nghiệp vụ này là nghiệp vụ phát sinh trong kỳ. Nghiệp vụ phát sinh trong kỳ thì tôi ghi giảm khoản mục tiền tệ theo tỉ giá ghi sổ. Thế còn lúc này à khi mà đây à cái trường hợp này của cô nhá là tôi ghi vào cái khoản mục phi tiền tệ thì cô ghi nó theo tỉ giá tại ngày giao dịch đúng không ạ? Và nếu như tôi có tỉ giá thực tế của giao dịch thì tôi sẽ ghi nó theo tỉ giá thực tế của giao dịch. Còn không có tỉ giá thực tế giao dịch thì cô phải ghi nó theo tỉ giá. Cô dùng cái từ là giao dịch thực tế hay gọi là tỉ giá của ngân hàng thương mại. Và cái tỉ giá giao dịch thực tế hay tỉ giá của ngân hàng thương mại đó thì cô có hai lựa chọn. Lựa chọn thứ nhất là tôi tính vào tỉ giá mua bán chuyển khoản trung bình hoặc là cái tỉ giá xấp xỉ. Các em công nhận không? Nhưng cô sẽ dùng cái lựa chọn là khi ghi giảm khoản mục tiền đệ là cô tính theo tỉ giá ghi sổ. Đấy cái trình tự kế toán đầu tiên của cô là như thế. Cái mục C1 nó sẽ là như thế. Đây là cái quy định của thông tư hay sao? Thì thực ra là toàn bộ cái đoạn này là cái đoạn mà cô lắp tỉ giá giống như lúc nãy cô trình bày cho các em thôi đúng không? Đấy khi mà cô mua các cái loại vật tư hàng hóa tài sản cố định phát sinh các khoản chi phí mà cô chưa trả tiền thì cô sẽ ghi nợ đúng không cô? Cô ghi tăng ở đây ạ. Cô sẽ đỗ cô ghi tăng các cái khoản mục này ở đây của cô cô ghi nhận khoản mục này là tiền tệ hay phi tiền tệ cô hỏi đây này 1521 536211 đây này đây gọi là khoản tiền tệ ạ >> phi tiền tệ đúng không ạ à thế thế và cô chưa trả tiền cô sẽ ghi có cho tài khoản phải trả người bán hoặc cô đi vay ngân hàng cô ghi có cho 34 thế thì lúc này khi cô ghi nhận vào khoản một phi tiền tệ trong trường hợp này trực thực chất là cô nhập khẩu ấy cô nhập khẩu các cái loại vật đầu tư hàng hóa. Thế thì cô sẽ tính nó theo tỷ ở đây tôi không có tỉ giá thực tế của giao dịch. Tức là tôi không có cái tỷ giá mà ghi trong hợp đồng đúng không? Đấy mà tôi sẽ ghi theo tỉ giá của ngân hàng thương mại tỉ giá ngân hàng thương mại ở đây là tỉ giá giao dịch thực tế. Thế còn lúc này cô ghi có 331 hoặc là 341 thì ở đây cái khoản mục 331 hoặc 341 đây là khoản mục tiền tệ hay phi tiền tệ? >> Tiền tệ ạ. >> Khoảng mục tiền tệ. Và cô ghi có cho nó là cô ghi tăng hay cô ghi giảm? tăng ạ. >> Cô ghi tăng đúng không ạ? Ghi tăng mà trong trường hợp này tôi không có tỉ giá thực tế của giao dịch hay không không có tỉ giá của cái hợp đồng ấy đúng không? Đấy thì cô sẽ ghi nó theo tỉ giá của ngân hàng thương mại và trong cái thông tư 99 thì người ta gọi là tỉ giá giao dịch tế và nghiệp vụ này của cô không có chức việc tỉ giá hủy đoán đúng không? Đấy nhưng cái nghiệp vụ thứ hai là cô mua đó nhưng mà cô trả được tiền chứ cô cô không không phải gọi là cô cô chưa trả tiền. Thế nếu mà cô cô mua nó mà cô trả tiền thì cô ghi tăng cái khoản mục này là khoản mục phi tiền đệ cô vẫn phải ghi theo tỉ giá giao dịch thực tế tức là tỷ giá của ngân hàng thương mại đúng không? Đấy thế nhưng mà ghi giảm tiền thì cô phải ghi nó theo tỉ giá ghi sổ thì lúc này có chênh lịch tỉ giá hội đoán các em hình dung ạ. Đấy. Thế thì lúc này toàn bộ cái đoạn đấy thì thực ra là vẫn là cái nguyên tắc mà cô trình bày thôi. Nhưng chẳng qua cái nguyên tắc cô trình bày thì ở đây nó thể hiện qua cái trình tự kế toán. Thì cái phần trình tự kế toán này xin mời các em về nhà các em phải xem cho cô ấy nhá. Và các em phải phải nhớ lại nguyên tắc và các em phải lấp cái tỉ giá vào cho cô. Như vậy có được không? >> Được ạ. >> Đúng không? Và chính đây này là ở cái mục C2 nhá. là ở cái slide trang 61 của cô này là kế toán các giao dịch bằng ngoại tệ nhá. Nhưng mà nếu cô ghi giảm khoản mục tiền tệ theo tỉ giá giao dịch thực tế này đấy và nếu mà ghi giảm khoản mục tiền tệ theo tỉ giá ghi sổ tỉ giá giao dịch thực tế thì đây toàn bộ cái đoạn này này là cái đoạn mà cô dùng cái lời lẽ của người ta mà cô cho các em cái ví dụ bằng số liệu là cái ví dụ 9b và ví dụ 9C ấy các em hiểu không? Đấy chứ là cái đoạn mà cô vận dụng cái này thì mình sẽ về nhà mình đọc đài liệu cho cô đúng không? Đấy thế rồi các nhiệm vụ cuối kỳ cô đánh giá lạiở đây đúng không? Đấy nếu mà anh là doanh nghiệp nhà nước đây, doanh nghiệp đặc thù đây. Em hình dung không? Thì thực ra toàn bộ cái đoạn này ấ là cái đoạn mà tôi chỉ minh họa cho cái nguyên tắc thôi. Nên đối với cô ấy cái mà mình học ấy, cái mà mình cần phải nhớ là cái nguyên tắc này. Và tôi đã có nguyên tắc này thì tôi sẽ vận dụng, tôi sẽ lắp được vào các tài khoản. Các em hình dung và cái phần tài khoản đấy nó chỉ là biểu hiện nguyên tắc này thôi. Cho nên vấn đề đặt ra ở đây ý thì nó sẽ là cái cái phần mà hôm nay mình học ấy thì liên quan đến loại tệ. Cho nên là mình sẽ về nhà mình sẽ phải học lại cho cô cái phần lý thuyết đúng không? Đấy và làm cho cô cái ví dụ số 10 nhá. Cái ví dụ số 10 đấy là mình tự làm cho cô nhá. Đúng không? Đấy ở đây nhá. Bài tập về nhà thì phải học lại cho cô phần lý thuyết nhỉ. Bài tập về nhà nhá thì phải xem lại cho cô xem lại cho cô cái phần lý thuyết này. Thứ hai nữa là mình sẽ làm được hết cái câu hỏi lý thuyết tình huống rồi. Đúng rồi. Phải làm cho cô cái câu hỏi lý thuyết tình huống. Gạch đầu thứ hai là làm cho cô câu hỏi lý thuyết tình huống. Câu hỏi lý thuyết tình huống là mình làm lý thuyết rồi bởi vì mình học xong lý thuyết rồi mà. Câu hỏi lý thuyết tình huống là từ câu T 3 đúng không? Đấy đến T 3 đúng không ạ? Đấy. T câu hỏi thích tình huống là 3.1 đến câu T 3.16 đúng không? Đấy. Thế còn tiếp theo là làm cho cô nhá. Làm cho cô cái ví dụ. Làm lại cho cô cái ví dụ 9A này, 9B này, 9C này và ví dụ số 10. B mình làm lên cho cô đúng không? Mặc dù là cô đẩy cái đáp án vào đấy đẩy vào để cho các em các em xem cho nó nhanh thôi đúng không? Đấy chứ còn mình phải về mình làm lại tự tay mình làm lại thì mình sẽ thấy có các cái vấn đề nó nảy sinh đúng không? Đấy những cái đó để làm gì? Để mình mới học được cho cô cái phần học thuộc cái phần nguyên tắc đã. Thế còn hôm sau khi mà thực hành cái bài mà lưu ý ngoại tệ ấy thì cô sẽ chữa cho mình một cái bài tập mẫu. Cái bài tập mẫu ấ nó sẽ là cái bài 3.1 đúng không? Mình có thể mình xem trước. Thì cái bài 3.1 đấy cô phản ánh các nghiệp vụ nhập khẩu, các nghiệp vụ xuất khẩu. Nhập khẩu xuất khẩu đấy có cái chuyện là nếu mà tôi mua hàng thì có chuyện trả trước tiền cho người bán hoặc bán hàng có người mua trả tiền trước đúng không ạ? Tôi sẽ sử dụng toàn bộ các câu chuyện liên quan đến cả thuế, liên quan đến cả tỷ giá và ghi nhận doanh thu chi phí như thế này. Hôm sau mình sẽ học tiếp. Đúng chưa ạ? Đấy. Thế thì cái bài mà hôm nay cô trình bày ấ là cô sẽ dừng lại đây T3.1 đến T3.16. Đây em mở tài liệu ra đây này là nó ở cái trang 23 và trang 24 ở trong cái tập bản dọc đây này đúng không? Trang 23 24. Đúng không? Đây mình phải mở tài liệu mình phải quen đi đúng không? Đó được chưa ạ? Thế thì cái buổi hôm nay cái phần mà cô trình bày ấy là cô dừng lại ở đây đã. Cô dừng lại ở đây đã. >> Được chưa? Thế có bạn nào còn muốn hỏi cái gì không? Lúc nãy hình như là mọi người cái tài khoản 131 và 331 thì chắc là ở đây mình phải đánh giá lại theo từng đối tượng chứ đúng không? Bởi vì là mỗi một cái đối tượng nhà cung cấp đấy thì cái tỷ giá mà ghi trên trên sổ ấy với cái tỷ giá tại ngày cuối kỳ là nó có giống nhau đâu em. Cái cái tỉ cái tỉ giá tại ngày cuối kỳ thì nó giống nhau rồi nhưng cái tỉ giá đi sổ thì nó không giống nhau. Mình phải chi tiết cho từng đối tượng rồi. Hải Yến Hải Yến hỏi cô thì nó chính là cái ví dụ của cô rồi. Ví dụ số 10 rồi. Bạn bạn Phương hỏi cô là trả lương. Thực ra ở đây nó chính là cái nghiệp vụ mà phát sinh chi phí. Chi phí thì lúc này là nếu mà tôi hôm sau cô cô sẽ chữa cái bài ngoại tệ đi, cái bài nhập khẩu đi thì thực ra là lúc này thì trong trường hợp này nếu mà trả lương vào ngày 25 đúng không ạ? Cũng giống như là cô mua hàng mà cô trả trước tiền cho người bán ấy thì cái trị giá hàng mua đấy cô sẽ tính theo tỉ giá tại ngày trả trước đúng không? Đấy thì cái đoạn này Phương có đang nằm trong Zoom không? >> Dạ em hiểu rồi ạ. Thì thì em lại phải vận dụng cái chú ý là hàng mà có trả trước tiền cho người bán ấy thì cái mua tương ứng với số tiền trả trước em sẽ tính nó theo tỉ giá tại ngày trả trước. Tức là em sẽ tính nó theo tỉ giá tại ngày 25 em ạ. >> À dạ vâng ạ. Em cảm ơn cô. Coi như là em trả chức tiền. >> Vâng vâng ạ. Em hiểu rồi ạ. Em cảm ơn cô. >> Vâng. Đấy thì nó nó sẽ là như vậy. Tức là kiểu mình phải học hết tất cả các cái nguyên tắc ấy xong là kiểu mình nhìn nó một cách khái quát thì nó dễ đúng không? Đó được chưa? Đấy thế thì hôm sau cô còn chữa một cái bài bài nữa thì mình sẽ cảm thấy nó sẽ rõ ràng hơn. Hôm nay mới chỉ là nguyên tắc thôi đúng không? Tạm thời là như vậy. Có bạn nào hỏi cô từ cái lúc đầu không cô? Ừ. Cô ơi.

Need a transcript for another video?

Get free YouTube transcripts with timestamps, translation, and download options.

Transcript content is sourced from YouTube's auto-generated captions or AI transcription. All video content belongs to the original creators. Terms of Service · DMCA Contact

Buổi 5 2 Kế toán các giao dịch bằng ngoại tệ Tiếp - YouTu...